Thứ Ba, 6 tháng 6, 2017

Đại học Đông Dương với sự hình thành tầng lớp trí thức Việt Nam thời thuộc địa : Luận văn ThS. Lịch sử: 60 22 54


http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/35258

Trình bày sự ra đời và quá trình hoạt động của Đại học Đông Dương từ năm 1906 đến năm 1945 về tất cả các mặt hoạt động: chính sách giáo dục, tổ chức, chương trình học, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giảng viên, sinh viên và sản phẩm đào tạo.v.v... Phân tích (...)

Phật giáo trong lịch sử văn học Việt Nam

Dân tộc Việt Nam có bề dày lịch sử 4000 năm văn hiến và văn học Việt Nam có hàng nghìn năm truyền thống. Riêng về văn học dân gian, ít nhất lịch trình phát triển cũng đã trãi qua 4000 năm, kể từ thuở vua Hùng dựng nước.
Chức năng của văn học là phản ảnh hiện thực của cuộc sống. Ðời sống tinh thần của con người nhất là đời sống tinh thần có đức tin là một mảng đời sống tồn tại trong hiện thực cuộc sống. Chính vì thế, nội dung tục ngữ, ca dao, ngụ ngôn, truyện cổ tích, truyện cười thuộc kho tàng văn học dân gian cũng đề cập đến nội dung tôn giáo, phản ảnh nội dung về tôn giáo.
Phật giáo Việt Nam là một thực thể tinh thần đã hiện diện , tồn tại hàng ngàn năm cùng dân tộc Việt Nam, trở thành một phần tâm linh tinh thần dân tộc, một thành tố trọng yếu về văn hóa tư tưởng. Từ nền văn hóa cực thịnh của các triều đại Lý, Trần đến kho tàng văn học dân gian đều nêu bật lý tưởng thương người yêu đời của Phật giáo.

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống văn bản hành chính Việt Nam qua tài liệu lưu trữ


http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/20642
Có thể khẳng định, công tác văn thư, lưu trữ có vai trò rất quan trọng đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, Đảng và nhà nước ta, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao ‎ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ.
Ngay từ những ngày đầu nước nhà giành được độc lập, Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Thông đạt số 1C/VP ngày 03 tháng 01 năm 1946 về công tác công văn, giấy tờ, trong đó Người đã chỉ rõ "tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt về phương diện kiến thiết quốc gia" và đánh giá "tài liệu lưu trữ là tài sản qúy báu, có tác dụng rất lớn trong việc nghiên cứu tình hình, tổng kết kinh nghiệm, định hướng chương trình kế hoạch công tác và phương châm chính sách về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, cũng như khoa học kỹ thuật. Do đó, việc lưu trữ công văn, tài liệu là một công tác hết sức quan trọng". Xác định ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của công tác lưu trữ đối với xã hội và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, ngày 17 tháng 9 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1229/QĐ-TTg về Ngày truyền thống của ngành Lưu trữ Việt Nam và lấy ngày 03 tháng 01 hàng năm là "Ngày Lưu trữ Việt Nam".

Chủ tịch Hồ Chí Minh tấm gương giữ gìn và phát triển tiếng Việt


Xã hội ngày nay phát triển không ngừng kéo theo rất nhiều thay đổi. Tuy “phát triển đến mức chóng mặt”, nhưng nhìn trên một khía cạnh khác, phải chăng có những sự tụt hậu, sự xuống dốc đến mức thảm thương, làm chúng ta “chóng mặt” không nhỉ ? Câu trả lời là có. Chắc hẳn chúng ta ai cũng biết đó là gì nhỉ! Đó là sự trong sáng của Tiếng Việt.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/24221

Thứ Hai, 5 tháng 6, 2017

Vai trò của luật sư bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/51580
Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Luật sư bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự. Phân tích các qui định của pháp luật về sự tham gia của Luật sư bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự. Các giải pháp nhằm nâng cao vai

" Hài hòa lợi ích" trước sự trỗi dậy của Trung Quốc : Trọng tâm quan hệ quốc tế của Việt Nam trong hội nhập và phát triển bền vững


L

Tìm hiểu một số phong tục cổ truyền của người Việt qua tục ngữ

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/22217
Tục ngữ ca dao cùng với những thành phần khác trong văn học dân gian Việt Nam được coi là nền văn học khởi nguồn. Cũng giống như Kinh Thi và văn học cổ Trung Hoa, không những khởi nguồn cho riêng văn học mà còn là khởi nguồn cho cả các ngành khoa học tự nhiên, xã hội và nhất là cho việc nghiên cứu về đạo đức, nhân văn.
Nếu nói dân tộc Việt Nam đã có 4000 năm lịch sử, thời tục ngữ ca dao Việt Nam cũng đã có 4000 năm tuổi.
Tục ngữ ca dao phản ảnh mọi mặt cuộc sống của người dân Việt Nam, qua quá trình lịch sử. Đó là một bức tranh sinh động, phong phú, đầy mầu sắc Việt Nam.
Tục ngữ ca dao đã thể hiện được một cách sâu sắc rực rỡ thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân Việt Nam từ thượng cổ cho đến sau này.
“Tục ngữ ca dao đã diễn đạt được rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử của nhân dân lao động”

1- Đó là những quan niệm về trời, đất, về nguồn gốc con người.
2- Phản ảnh công cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, chống áp bức bóc lột và xâm lược.
3- Những kinh nghiệm trong sản xuất, chăn nuôi, gieo trồng mùa vụ.
4- Những kinh nghiệm trong sinh hoạt thường ngày.
5- Những điều cần giáo dục truyền bá cho nhau về cách sống làm người.

Sở dĩ người xưa dùng tục ngữ ca dao làm lợi khí sáng tác là vì:
a) Tục ngữ, ca dao, nhất là tục ngữ rất ngắn gọn dễ sáng tác, dễ nhớ và dễ truyền miệng.
b) Ngôn ngữ hàm súc, ít lời nhưng nhiều ý.
c) Có hình ảnh phong phú.
d) Có vần nhịp.
e) Có nhạc điệu.

Tục ngữ là những kinh nghiệm sống có tính trí tuệ, thiên về lý tính. Tục ngữ thường có nghĩa đen, nghĩa bóng, giá trị chủ yếu là ở nghĩa bóng, bởi nghĩa bóng mới có sức hàm chứa được nhiều ý và mới nâng cao được tác dụng giáo dục. Ca dao cũng làm nhiệm vụ như tục ngữ, nhưng thiên về trữ tình. Ca dao thường giàu hình ảnh, nhạc điệu. Ca dao không phải chỉ có hai câu mà thường là thành bài. Nhờ vậy, ca dao có khả năng diễn đạt không những có tính hiện thực sâu mà lại còn có tính lãng mạn cao. Nhiều bài tình cảm được mở rộng, khiến cho ý tình như được chắp cánh bay lên - Nhiều bài đạt được trình độ nghệ thuật mẫu mực, có giá trị như thơ ca cổ điển:

Gươm vàng rớt xuống Hồ Tây,
Công cha cũng nặng, nghĩa thầy cũng cao.
Muốn sang thời bắc Cầu Kiều,
Muốn con hay chữ, thời yêu lấy thầy.

Người xưa đã dùng tục ngữ ca dao để truyền bá lối sống, đạo đức. Những lời răn dạy ấy ân cần tha thiết yêu thương như tiếng nói của một người mẹ hiền. Người mẹ hiền Tổ quốc:

1- Đó là những lời răn dạy về cách ăn ở trong gia tộc.
2- Những lời răn dạy về nói năng giao tiếp.
3- Những lời răn dạy về nhân đức.
4- Những lời răn dạy về việc học hành.
5- Những lời răn dạy về đức hạnh người con gái.
6- Những răn dạy về giữ gìn tình nghĩa vợ chồng.
7- Những răn dạy về tu thân lập nghiệp.
8- Những răn dạy về đoàn kết, tương thân tương ái.
9- Thế thái nhân tình.
10- Nêu gương yêu nước, chống áp bức bóc lột xâm lược.
11- Và những điều cần phải tránh.

Những lời răn dạy ấy là những bài học quý giá, rất phong phú đa dạng, những chuẩn mực về lối sống và nhân cách Việt Nam, đậm đà bản sắc Việt Nam.
Đó là một cuốn sách giáo khoa có giá trị vào loại bậc nhất (nếu không nói là độc nhất vô nhị) về luân lý và đạo đức học, vì đấy là cái nền để rồi đến khi hấp thu được tư tưởng đạo đức mới của thời đại mới, mới có thể trở thành được những con người Việt Nam vừa dân tộc vừa hiện đại. Đó là một mẫu người Việt Nam đẹp nhất, những con Rồng cháu Tiên xuất hiện dưới thời đại Bác Hồ, sẽ là những người Việt Nam có tâm hồn đạo đức đẹp nhất từ xưa đến nay. Cái đẹp của người Việt Nam mới là sự hợp thành bởi hai sắc thái đạo đức Truyền thống và Hiện đại. Hai yếu tố ấy như là hai phần trong một cơ thể Người - Thiếu đi một phần sẽ trở nên “bất thành nhân dạng”, không thể nào trở thành được một Con người mới, của Thời đại mới.